TRANG CHỦ LỊCH SỬ KHOA CLB Giữ cho lá phổi khỏe mạnh ĐƠN VỊ CMU PHỤC HỒI CNHH THĂM DÒ CNHH HỘI NGHỊ KHOA HỌC TIN TỨC Đăng nhập  
 
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HÔ HẤP

CHÀO MỪNG BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI
CHUYÊN NGÀNH PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HÔ HẤP
  
BẠN SẼ TÌM THẤY Ở ĐÂY


Khái luận về phục hồi chức năng hô hấp

CHƯƠNG I: Đại cương các bệnh thuộc hệ hô hấp

CHƯƠNG II: Đại cư­ơng về phục hồi chức năng

CHƯƠNG III: Phục hồi chức năng trong chuyên ngành hô hấp

CHƯƠNG IV: Vật lí trị liệu trong chuyên ngành hô hấp 

CHƯƠNG V : Các kĩ thuật phục hồi chức năng hô hấp

CHƯƠNG VI : Chỉ định điều trị

  1. Nhóm bệnh lý  nung mủ phổi phế quản.
  2. Nhóm tràn dịch màng phổi (lao màng phỏi).
  3. Di chứng lao phổi
  4. Nhóm sau phẫu thuật phổi.
  5. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)
  6. Nhóm tic hô hấp

CHƯƠNG VII : Vai trò của  thăm dò chức năng hô hấp trong điều trị phục hồi chức năng hô hấp

CHƯƠNG VIII : Các ph­ương pháp lượng giá

CHƯƠNG IX: Phục hồi chức năng hô hấp tại Bệnh viện, thành phần điều trị không thể thiếu
CHƯƠNG X;  Phục hồi chức năng hô hấp tại cộng đồng, những điều cần biết

THAM KHẢO

Tác dụng của bộ máy hô hấp đến các cơ quan trong cơ thể






              KHÁI NIỆM VỀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HÔ HẤP

Phục hồi chức năng được ví như là chân kiềng thứ 3 trong chăm sóc sức khỏe toàn diện: phòng bệnh, chữa bệnh, và phục hồi chức năng. Cùng với sự phát triển của y học, phục hồi chức năng hô hấp cũng ngày càng phát triển và có nhiều đóng góp thiết thực cho công tác chăm sóc sức khỏe cho toàn dân

Phục hồi chức năng trong chuyên ngành hô hấp rất quan trọng không thể thiếu được trong phác đồ điều trị tổng thể bệnh lý hô hấp nhất là các bệnh mạn tính hay sau phẫu thuật phổi.

Tuy nhiên, hiện nay điều trị phục hồi chức năng hô hấp (PHCNHH) chưa được chú ý đúng mức tại nhiều cơ sở y tế, vì vậy có thể nói rằng chất lượng điều trị vì thế chưa đạt được yêu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao của người bệnh cũng như của thầy thuốc.

Hơn nữa, quản lý các bệnh mạn tính cần được chuyển về cộng đồng là một xu hướng tất yếu của một nền y tế ưu việt, vậy làm sao để cấu phần điều trị phục hồi chức năng hô hấp được thực hiện bởi các thầy thuốc tại y tế cơ sở là một vấn đề khó khăn và lâu dài.

Để đưa điều trị phục hồi chức năng đến với người bệnh phụ thuộc rất nhiều vào các thầy thuốc về kỹ năng thực hành và về nhận thức của người bệnh, đồng thời cần sự quan tâm của lãnh đạo các cơ sở y tế.

                                                                                              PGS.TS Nguyễn Viết Nhung 

 
           16 KĨ THUẬT CƠ BẢN TRONG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HÔ HẤP




  1. Tập Ho hữu hiệu
  2. Tập thở chúm môi
  3. Tập thở Hoành ( 3 tư thế)
  4. Tập tay với Bóng mềm
  5. Tập tay với Bóng cứng
  6. Tập tay với Lò xo
  7. Tập tay với kìm tập
  8. Tập tay với Thiết bị lực cơ tay
  9. Tập tay với Tạ tay các loại
  10. Tập tay với Thiết bị kéo dãn
  11. Tập đi bộ trên băng chuyền
  12. Tập đi bộ bằng xe đạp lực kế
  13. Tập toàn thân Thiết bị kéo dãn
  14. Tập toàn thân Thang tường
  15. Tập toàn thân Gậy
  16. Tập toàn thân với Ròng rọc

 Các kỹ thuật phục hồi chức năng hô hấp trong chuyên ngành hô hấp được chia ra làm 2 nhóm như sau:

1.     Các kỹ thuật vật lí trị liệu hô hấp làm thông thoáng đường thở và tống đẩy các chất đờm, dịch gây ứ tắc phế quản. Bao gồm các kĩ thuật; Ho hữu hiệu, dẫn lưu tư thế, vỗ, rung, nhún sườn. tập thở  (bao gồm tập thở chúm môi, tập thở hoành ở các tư thế )


2.  Vận động thể lực kết hợp vật lí trị liệu hô hấp để tăng cường thể trạng và điều chỉnh tư thế.Bao gồm các bài tập tăng cường sức mạnh, sức bền của tay, của chân, toàn thân, và các  bài tập kết hợp với dụng cụ  (gậy, thang tường, ròng rọc, đai vải…)

 I. CÁC KĨ THUẬT VẬT LÍ TRỊ LIỆU HÔ HẤP

Mục đích:

-         Tống đẩy các chất đờm dịch

-         Tăng thông khí phổi do đó làm giảm khó thở, tiết kiệm được năng lượng do điều khiển được nhịp thở và thúc đấy được hoạt động tối đa của các cơ hô hấp giúp người bệnh có đủ ô xy trong các sinh hoạt thường ngày

-         Dự phòng viêm nhiễm tái phát

Các kĩ thuật

1. Kĩ thuật 1:  Kĩ thuật ho hữu hiệu

-         Thời gian tập “ 5’ phút

-         Mục dích : Giúp người bệnh  khạc được đờm ra ngoài dễ dàng, làm  thông thoáng đường thở  do vậy sẽ làm giảm khó thở  và tăng được thông khí phổi

-         Thực hiện : Đầu tiên hít vào thật sâu, nín hơi khoảng 2 giây sau đó ho mạnh ra liên tiếp 2 lần, có thể  lặp lại 1 hoặc 2 lần…

-         Yêu cầu: Hít vào thật sâu, càng sâu càng tốt ,  cố gắng nín được hơi,  sau đó mới ho ra mạnh, có thể  lặp lại 1 hoặc 2 lần. 

2. Kĩ thuật 2: Kĩ thuật dẫn lưu tư thế

Dẫn lưu tư thế được coi là kĩ thuật đặc biệt chuyên sâu trong chuyên ngành hô hấp, và ngày càng được áp dụng rộng rãi bởi kĩ thuật dễ áp dụng và mang lại hiệu quả cao cho người bệnh.

2.1.Mục đích: Là một phương pháp  nhằm giải phóng đờm dịch ra khỏi phổi nhờ trọng lực, do đó người điều trị phải hiểu rõ giải phẫu của đường khí phế qủan để có thể áp dụng hữu hiệu tư thế dẫn lưu.

2.2.Chỉ định:

Chỉ định với mục đích phòng bệnh:

-         Bệnh nhân thở máy liên tục (với điều kiện chịu đựng được biện pháp điều trị)

-          Bệnh nhân bất động lâu ngày, đặc biệt ở người già, những người có nguy cơ bị ùn tắc đường thở như bệnh phổi phế quản mạn tính, sau các mố lớn, hoặc mổ lồng ngực.

-         Bệnh nhân có tăng tiết đờm rãi như giãn phế quản hay kén phổi

-         Bệnh nhân có khuynh hướng hạn chế hô hấp vì đau hoặc suy kiệt phải bát động, bệnh nhan bị giảm hoặc mất phản xạ ho để tống đờm

Chỉ định với mục đích tống thải đờm, dịch bị ứ đọng dịch tiết

-         Bệnh nhân bị xẹp phổi do ứ đọng dịch tiết, bị áp xe phổi có khạc mủ, bị viêm phổi, ứ đọng đờm dịch sau phẫu thuật

Bệnh nhân bị hôn mê lâu ngày

Chỉ định kĩ thuật dẫn lưu tư thế bao giờ cũng đi kèm với kĩ thuật vỗ, rung lồng ngực, ho hứu hiệu, tập thở hoành… mới có hiệu qủa tốt trong việc tống thải đờm dịch ra ngoài.

 

2.3.Chống chỉ định: Người bệnh già yếu, ho ra máu, thận trọng với người có huyết áp cao và bệnh tim mạch.

2.4.Thời gian đặt tư thế dẫn lưu: 25 đến 30’

2.5. Thực hiện kĩ thuật:

Chuẩn bị: Khám xét kĩ người bệnh, xác định vùng phổi tổn thương nào là chủ yếu cần phải dẫn lưu, tình trạng toàn thân của bệnh nhân, khi nào dãn lưu là tôt nhất.Trước khi dẫn lưu phải nới lỏng quần áo. Quan sát cẩn thận tát cả các ống thong hoặc dây dẫn có trên người bệnh, và giữ cho các ống khỏi bị xê dịch khi đặt tư thế dãn lưu. Với người bệnh nặng cần phải đo mạch , huyết áp trước và trong quá trình dẫn lưu Người điều trị đứng phía trước mặt bệnh nhân để quan sát nét mặt người bệnh khi thay đổi tư thế dẫn lưu. Chuẩn bị cốc đờm

Một số nguyên tắc: Tư thế dẫn lưu là tư thế người bệnh có thể  ho khạc, đờm, dich ở trong phổi ra khỏi phổi bằng đường khí phế quản được thuận lợi nhất. Đặt ở một tư thế phải duy trì ít nhất từ 5 đến 10 phút, nếu bị ứ đọng nhiều đờm dịch thì thời giân cần duy trì lâu hơn 20 đến 30 phút .Nguyên tắc phần phổi tổn thương được giải phóng, nằm phía trên, phần phổi lành nằm phía dưới sát mặt gường.

Ví dụ: tổn thương nằm ở phổi trái (tất cả các thuỳ) tư thế được dẫn lưu sẽ là phổi trái được giải phóng nằm ở phia trên còn phổi phải sát với mặt giường, quy ước gọi tư thế này là  bệnh nhân nằm nghiêng trái,  các động tác vỗ, rung, nhún sườn ….sẽ tác động vào phần phổi trái đã được giải phóng (tuỳ mức độ tổn thương và sức khoẻ của mỗi người bệnh để tác động  một lực thích hợp)

Trước khi đặt tư thế dẫn lưu người bệnh được hướng dẫn kĩ thuật ho hứu hiệu, tập thở để phối hợp thực hiện.  Các kĩ thuật vỗ, rung, nhún sườn sẽ được thực hiện trên người bệnh trong tư thế dẫn lưu thích hợp đó.

Nếu người bệnh có đờm dịch đặc, trước khi điều trị có thể làm khí dung, cho thuốc loãng đờm, uống nhiều nước

Sau khi điều trị người bệnh trở lại tư thế cũ hoặc ngồi dậy từ từ

Lưu ý: Các chất dịch không tống ra ngay trong và sau dẫn lưu mà thường phải sau 30 phút đến 1 giờ, nên nhắc người bệnh chú ý ho khạc đúng quy định


3.  Kĩ thuật 3: Kĩ thuật vỗ lồng ngực

-         Mục đích: Là tác động lực cơ học làm rung lồng ngực, làm long đờm kết hợp tư thế dẫn lưu để loại đờm, dịch ra khỏi đường hô hấp.

-         Thực hiện: Kỹ thuật được thực hiện trên thành ngực chỗ tương ứng với tổn thương . Bàn tay  kĩ thuật viên khum, các ngón tay khép. Khi vỗ sẽ tạo nên một đệm không khí giữa long bàn tay và thành ngực. Khi vỗ, tay KTV phải thật mềm mại không nên đi thẳng vào vùng tổn thương ngay mà tiến dần từ xa đến, để người bệnh được thích nghi từ từ với sự can thiệp (nhất là đối với  người bệnh đang sốt và đau,  ngại bất kỳ một  sự va chạm nào trên da thịt). Hai tay vỗ nhịp nhàng và di chuyển trên thành ngực với lực đều nhau, Bệnh nhân phải thư giãn và chùng cơ khi vỗ. Lực vỗ vừa phải, bệnh nhân có cảm giác dễ chịu  Sau một đợt vỗ hướng dẫn người bệnh ho hữu hiệu tống đẩy đờm dịch vừa được bong tống  ra ngoài.

-         Thời gian duy trì kĩ  thuật: : Từ 3 đến 5 phút cho 1 lần vỗ

-         Lưu ý: Nếu vỗ gây đỏ da, bệnh nhân khó chịu là bàn tay không khum, hoặc lực vỗ quá mạnh cần điều chính lại

  4. Kĩ thuật 4: Kĩ thuật rung lồng ngực.

-         Mục đích: Kĩ thuật rung thường tiến hành sau khi vỗ hoặc xen kẽ giữa vỗ và rung trong khi dẫn lưu tư thế. Kĩ thuật rung cũng là tác động một lực cơ học làm long đờm, và đờm di chuyển vào phế quản, dãn lưu thoát ra ngoài

-         Thực hiện: Kỹ thuật rung chỉ  làm vào kỳ thở ra, và cũng được áp dụng trên thành ngực ở chỗ tương ứng với vùng tổn thương. Hướng dẫn người bệnh hít vào sâu , hai tay KTV  đặt chồng lên nhau trên thành ngực tổn thương, cổ tay và khuỷu tay của KTV phải luôn luôn thẳng. Khi ngươì bệnh thở ra thì ấn đẩy, rung vào thành ngực tạo một lực rung cơ học . Kĩ thuật rung làm sau vỗ có tác dụng ấn đẩy đờm dịch vừa bong di chuyển  vào phế quản  để từ đó bằng ho hiêụ quả sẽ đẩy hắt ra ngoài.

-         . Thời gian thực hiện kĩ  thuật: Từ 3 đến  5 phút.

-         Lưu ý: Những bệnh nhân có bệnh lí xương sườn như loãng xương, chấn thương ngực.

 5. Kĩ thuật 5:  Kĩ thuật nhún sườn

-         Kĩ thuật này cũng là một tác động cơ học giống kĩ thuật rung lồng ngực nhằm tống đẩy các chất đờm dịch ứ đọng ra ngoài. nhưng với cường độ và áp lực mạnh hơn để mang lại hiệu quả tối đa. Kĩ thuật cũng được áp dụng trên thành ngực chỗ tương ứng với vùng tổn thương. Kỹ thuật chỉ áp dụng với người bệnh trẻ, thể trạng khá tốt, không áp dụng với người già yếu và có ho ra máu. Việc chỉ định cần được lựa chọn cẩn thận cho phù hợp nhất là khi người bệnh đang sốt, đang khó thở….. Vì vậy một thái độ nhẹ nhàng kiên trì trước khi thực hiện kĩ thuật cũng có vai trò rất quan trọng để đạt hiệu quả..

-         Thời gian thực hiện: Từ 3 đến  5 phút.

-         Lưu ý: Các trường hợp có bệnh lí xương sườn để tránh gãy xương sườn.

6. Kĩ thuật 6: Kĩ thuật tập thở .

       Tập thở có chỉ định rộng rãi, tương đối dễ thực hiện. Tập đúng  yêu cầu thì hiệu quả thu được hết sức khả quan, chính nó tạo nên sức khỏe và nâng cao sức khỏe cho người bệnh.

Trong các cơ hô hấp,cơ hoành đóng vai trò quan trọng nhất , cơ hoành có diện tích 250cm vuông , nên hạ thấp xuống được 1cm là đã có thể tăng được 250ml không khí, do vậy tập để điều khiển cơ hoành nâng lên hạ xuống nhịp nhàng sẽ  giúp ích rất nhiều cho người bệnh 

Thở cơ hoành hay còn gọi là thở bụng là một kiểu thở  được chỉ định rộng rãi , có thể chỉ định trong mọi trường hợp có giảm thong khí.. Đây là một kiểu thở nhằm huy động tối đa sự hoạt động của các cơ hô hấp nhất là cơ hoành

 Mục đích: Tăng thông khí phổi, giảm sự khó thở và tăng cường hoạt động của các cơ quan (xem chương tác dụng của tập thở đến các bộ phận trong cơ thể)

        Tập thở bao gồm: Tập thở chúm môi, tập thở cơ hoành, tập thở cơ hòanh có trợ giúp và  tập thở  cơ hoành có trở kháng.

        Kĩ thuật được thực hiện như sau (bao gồm 4 thì trong 1 nhịp thở)

-         Thì hít vào, hoàn toàn bằng mũi, bụng phình ra hết sức, nhằm vận động sự hạ thấp tối đa của cơ hoành, làm giảm áp lực trong thành bụng và thành ngực, kéo vào phổi một lượng khí  nhiều hơn.

-         Sau thì hít vào là đến giai đoạn giữ hơi,  cố gắng nín được 1-3’  bụng phình ra và cứng hơn bình thường

-         Thì thở ra, chúm mội thở ra từ từ, người bệnh thót bụng vào hết sức, áp lực thành bụng và thành ngực tăng lên, đẩy ra ngoài hết lượng khí dự trữ ở phổi.

-         Sau thì thở ra là giai đoạn nghỉ,  thả lỏng các cơ.

-         Lưu ý: Thời gian thở ra ít  nhất  phải dài gấp đôi thời gian hít vào

 Mức tập: tập từ bình thường đến mức tối đa tuỳ thể trạng người bệnh

-         Mức bình th­ường : Hít vào và thở ra theo nhu cầu cơ thể, áp dụng cho những ngày đầu luyện tập. khoảng 0,5 lít khí lưu thông

-         Mức vừa: hít vào  sâu, thở ra  có cố gắng đạt khoảng 0,5 + 0,5 lít = 1lít khí lưu thong. Mức này khá thoải mái, ít mệt, tập thở lâu đ­ược, sau khi hít vào sâu thì chúm môi thở ra từ từ, cố gắng ép bụng để  thở ra, các cơ hô hấp và cơ bụng hoạt động tương đối triệt để.

-         Mức tối đa : Hít vào thật sâu rồi chúm môi thở ra từ từ  gắng sức cho tới khi hết khí dự trữ ở phổi. đây là cách  tập thở tốt nhất để tăng thông khí phổi, có tác dụng tập điều khiển cho cơ hoành nâng lên và hạ xuống theo yêu cầu cơ thể. Mức này khoảng 0,5 + 1,5 lít = 2lít khí lưu thông

 

 

Khái quát các thì thở theo sơ đồ

B4

 

 

 

vbổ sung

 

 

 

 

 

 

 

 

 

B2

 

 

 

 

vlư­u thông B1

 

 

 

vdự trữ

+

+

-

-

B3

hít vào (đều, sâu)

giữ hơi

thở ra (chúm môi thở ra , bụng thót lại, thời gian thở ra gấp đôi thời gian hít vào

 

Thời gian : Mỗi lần tập từ 10 đến 15 phút, ngày tập 2, 3 lần

Yêu cầu:

-         Hít vào hoàn toàn bằng mũi,  ngực nở bụng phình, nếu ở mức tối đa phải thấy các lỗ hõm ở cổ rõ rệt, yết hầu phải bị kéo xuống, sờ ở vùng dạ dày phải thấy phình lên, sờ bụng dưới thấy cứng.

-         Thở ra hoàn toàn bằng miệng, chủ động được việc chúm môi thở ra từ từ, tự nhiên, thoải mái, thở ra hết bụng  và ngực đều mềm.

Chỉ đinh:

-         Các bệnh lí phế quản phổi, hạn chế hô hấp do bệnh lí lồng ngực , béo bệu, giảm thông khí do mọi nguyên nhân.

-          Các rối loạn chuyển hóa như toan máu, kiềm máu

-         Các bệnh nhân suy kiệt bất động lâu ngày

-         Đau do phẫu thuật hay chấn thương, các phẫu thuật vùng ngực


.1.Tập thở chúm môi

-         Thời gian tập : 5 đến 10 phút

-         Thực hiện: Đầu tiên  hít vào thật chậm rãi qua mũi cho đến khi phổi căng đầy không khí, sau đó  chúm 2 môi lên như chuẩn bị  thổi  sáo  rồi từ từ  thở ra chậm rãi qua miệng.

-         Yêu cầu  thời gian thở ra phải dài  ít nhất gấp đôi thời gian hít vào.Đây là kĩ thuật tương đối dễ thực hiện với đa số người bệnh  là kĩ thuật dựa vào sinh lí bình thường của cơ thể khi gắng sức nên phù hợp với tất cả các giai đoạn bệnh từ nhẹ tới nặng của  người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

 

6.2.Tập thở cơ hoành ở 3 tư thế : nằm, ngồi và đứng .

Động tác 1: Tập thở cơ hoành  ở tư thế nằm .

Người bệnh nằm ngửa thoải mái, 2 đầu gối chống lên, 2 chân mở rộng bằng vai, một  tay đặt nhẹ lên bụng, một tay để xuôi theo thân.  Hit vào từ từ bằng mũi, bụng từ từ phình lên,  sau đó chúm môi từ từ  thở ra  qua miệng, bụng từ từ  lép lại .

 

Động tác 2: Tập  thở cơ hoành ở  tư thế ngồì

Người bệnh  ngồi, 2 chân mở rộng  bằng vai, một bàn tay đặt nhẹ vào vùng bụng dưới, một tay để xuôi theo thân. Hit vào từ từ bằng mũi, bụng từ từ phình lên, sau đó chúm môi từ từ thở ra qua miệng, bụng từ từ lép lại .

 

Động tác 3: Tập thở cơ  hoành ở tư thế đứng

Người bệnh  đứng, 2 chân mở rộng  bằng vai, một tay đặt nhẹ vào vùng bụng dưới, một tay để xuôi theo thân. Hit vào bằng mũi để  bụng từ từ phình lên,  sau đó chúm môi  thở ra qua miệng để từ từ bụng lép lại

-         Yêu cầu: Hít vào bụng phải phình lên,  thấy được bụng phình đấy tay lên. Khi đã tập thành thao bụng phải phình và cứng, thở ra bụng  từ từ lép lại.

 

6.3. Tập thở cơ hoành có trợ giúp.

Đầu tiên hướng dẫn người bệnh hít vào theo khả năng. Khi thở ra, hai bàn tay của KTV cũng nới lỏng  tay ra. Ở giai đoạn cuối của thì thở ra, tay  người KTV sẽ đẩy cơ hoành lên, lực đẩy lên này bắt đầu ở cuối thì thở ra và tăng dần cho đến hết ở thì hít vào. Động tác này trợ giúp người bệnh thở ra được hết khí cặn ứ đọng ở trong phổi

6.4. Thở hoành có trở kháng ( thở vùng)  kiểu thở phân thùy, kiểu thở cạnh sườn hay còn gọi là thở có trở kháng hướng thở tập trung vào vùng tổn thương.       

    Chỉ định cho bệnh nhân bị xẹp phổi trong giai đoạn cấp tính cần vận động để phổi nở trở lại, trong tràn dịch màng phổi ở giai đoạn đã hết dịch cần vận động để bóc tách phần màng phổi mới dính, trong viêm phổi và nhất là sau phẫu thuật cắt thùy phổi.

          Tay KTV đặt lên vùng thành ngực tương ứng với vùng phổi cần tăng thông khí. Đầu tiên để tay người điều trị chuyển động lên xuống theo nhịp thở vài lần. Sau đó  người điều trị dùng áp lực ở hai bàn tay ấn đẩy lên lồng ngực vài lần khi người bệnh thở ra, để lồng ngực cử động tự do khi bệnh nhân hít vào. KTV tiếp tục trợ giúp khi người bệnh thở ra và kháng lại đôi chút khi bệnh nhân hít vào, yêu cầu người bệnh hít vào gắng sức để đấy ngược lại bàn tay người điều trị. Động tác này giúp người bệnh thở vào được đầy đủ hơn.

 Vị trí đặt tay của KTV thường là: Ở cạnh sườn  một hoặc hai bên hoặc ở phía trước vùng hạ sườn với những vùng tổn thương thuỳ dưới. Ở đường nách giữa đối với thùy giữa phải. Ở vị trí phần trên ngực đối với thùy trên.

 

-         Các bệnh nhân suy kiệt bất động lâu ngày

4. Kĩ thuật thứ 10 : Tập tay với kìm tay

-         Dụng cụ tập: Kìm tay, kích thước nhỏ gon, nắm được trong lòng bàn tay.

-         Mục đích: Tập cho nhóm các cơ ở ngón tay, bàn tay tăng cường hoạt động về sức bền và sức mạnh.

-         Thực hiện: Hai tay cầm 2 kìm tập, các ngón tay cùng lúc bóp mạnh kìm tập nhịp nhàng, làm liên tục 10 động tác, lúc đầu tập chậm sau tăng dần cường độ. Tùy thể trạng để có thể tác động  vào kìm tập một lực thích hợp, tăng dần cường độ và thời gian cho mỗi buổi tập. Đây là kĩ thuật tập để nâng cao sức mạnh và sức bền của các cơ ngón tay và bàn tay rất hiệu quả và đòi hỏi sức mạnh khá nhiều của các nhóm cơ tay.

 

5.  Kĩ thuật thứ 11. Tâp tay với thiết bị  lực cơ tay.

-         Dụng cụ tập: Thiết bị lực cơ tay, kích thước phù hơp.

-         Mục đích: Tập cho nhóm các nhóm cơ ở bàn tay, cổ tay và cẳng tay tăng cường hoạt động cả về sức bền và sức mạnh.

-         Thực hiện: Luồn bàn tay vào phía trên của thiết bị phần không có đệm, sao cho bàn tay nắm chặt đầu trên, phần có đệm mút nằm phía trong cẳng tay, sau đó gập duỗi cổ  tay nhịp nhàng, tập 10 nhịp thì tăng dần cường độ và biên độ, có thể tập cả 2 tay cùng một lúc.


6. Kĩ thuật thứ 12: Tập tay với thiết bị kéo giãn

-         Dụng cụ tập: Thiết bị kéo giãn dùng cho tay, kích thước phù hợp.

-         Mục đích: Tập cho nhóm các cơ ở bàn tay, cổ tay và cẳng tay tăng cường hoạt động cả về sức bền và sức mạnh.

-         Thực hiện: Người bệnh ngồi tập thoải mái, hai chân mở rộng bằng vai, hai tay cầm 2 đầu của thiết bị ngang với tầm tay thả lỏng, sau đó hai tay đồng thời kéo giãn về 2 phía, rồi lại trở về tư thế ban đầu, làm như vậy 10 động tác, sau đó  kéo giãn thiết bị với biên độ ngày càng lớn  hơn. Là kĩ thuật đòi hỏi sức lực khá nhiều nên rất cần tập luyện thường xuyên và kiên trì để có được hiệu quả mong muốn

-         Yêu cầu: Không quá gắng sức mà sẽ tăng dần vào mỗi buổi tập cả về thời gian, biên độ  và cường độ.

 

7. Kĩ thuật thứ 13: Tập tay với tạ tay.

-         Dụng cụ tập: Tạ tay từ 0,5 đến 3kg

-         Mục đích: Tập cho nhóm các cơ ở bàn tay, cổ tay, cẳng tay và nhóm cơ bả vai tăng cường hoạt động cả về sức bền và sức mạnh.

-         Thực hiện; Tập ở tư thế ngồi, đứng hoặc nằm tập. Hai tay cầm 2 quả tạ, đầu tiên là  tập cho lực cơ cẳng tay nên 2 cẳng tay  thả lỏng theo tư thế tự nhiên, sau đó gấp vào  rồi duỗi ra theo tầm tay của chính mình. Thực hiện 10 động tác rồi đổi tay, nếu sức khỏe cho phép có thể tập cả 2 tay cùng một lúc. Sau khi tập khoảng 5 phút thì nâng tạ lên phia trên đầu theo tầm tay với để tập cho các nhóm cơ ở cánh tay và nhóm cơ ở bả vai. Lúc đầu tập chậm sau tăng dần cường độ và thời gian.

 

  Tập sức bền, sức mạnh của chân

-         Mục đích: Tăng  cường hoạt động sức mạnh, sức bền  của nhóm các cơ.bàn chân, cổ chân, cẳng chân và nhóm cơ đùi 

-         Thời gian : Mỗi buổi tập từ 10 đến 15’, ngày tập 2 đến 3 lần.


8. Kĩ thuật thứ 14 : Tập chân với thiết bị đi bộ trên băng chuyền.

-         Dụng cụ tập: Hệ thống đi bộ băng chuyền, có đồng hồ đo thời gian và đồng hồ đo tốc độ đi trên băng

-         Mục đích: Tập cho nhóm các cơ ở bàn chân, cổ chân,  cẳng chân  và nhóm cơ đùi tăng cường hoạt động cả về sức bền và sức mạnh.

-         Thực hiên: Người bệnh bước lên thiết bị, hai tay nắm vào thiết bị, hai bàn chân miết trên băng chuyền , khởi đầu từ từ sau tăng dần. Tăng dần thời gian và cường độ, người bệnh có thể theo dõi được tốc độ đi trên đồng hồ đo.

-         Yêu cầu: Tập từ từ, tăng dần cường độ và thời gian cho mỗi buổi tập.

 

Phucn hoi
Bản quyền BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI TRUNG ƯƠNG * Thiết kế bởi công ty VietNet